Ao làng và chiếc cầu ao là nơi các mẹ ngồi vo gạo, rửa rau mỗi buổi chiều, nơi bèo tây trôi dạt, hoa súng tím nở trên mặt nước, và trẻ con ngồi thả chân nhìn đàn cá rô đớp mồi. Ở nhiều làng Bắc Bộ, nhà nào có ao, nhà ấy có một khoảng trời soi xuống sân sau.
Chào bạn, đây là Kho Sách Nói. Tập này mình kể về cái ao sau nhà, một thứ rất bình thường, rất quen, đến mức chỉ khi nó cạn đi người ta mới nhận ra mình đã gắn bó với nó thế nào.
Cái ao sau nhà
Ao nhà mình không lớn, rộng chừng mấy sào, nằm sau bếp. Bờ ao một bên trồng chuối, một bên trồng mấy khóm khoai nước, một bên là luỹ tre. Phía gần nhà có chiếc cầu ao bắc ra mặt nước.
Mặt ao lúc nào cũng có bèo. Bèo tây mùa hè trổ hoa tím nhạt, xinh mà buồn. Bèo tấm xanh li ti phủ một góc ao. Mùa thu có thêm mấy bông súng tím, nở sớm, cụp lại khi trưa nắng.
Ao là nơi nuôi cá, nuôi vịt, là nơi tưới rau, cũng là nơi đổ nước thải của bếp ngày xưa. Bố bảo mỗi năm phải tát ao một lần, vét bùn đắp lên bờ cho cây, ao mới sạch, cá mới lớn.
Đối với mình, ao là một thế giới nhỏ. Có cá, có ếch, có con cò thỉnh thoảng sà xuống, có nhện nước chạy trên mặt nước nhanh như bay. Mình có thể ngồi cả buổi bên ao mà không thấy chán.
Chiếc cầu ao bằng ván gỗ
Cầu ao nhà mình làm bằng mấy tấm ván gỗ đóng lên cọc tre, chìa ra mặt ao. Lâu ngày ván mục, bố lại thay ván mới. Cầu hẹp, chỉ vừa một người ngồi xổm, đi phải cẩn thận kẻo trượt.
Chiều chiều, mẹ ra cầu ao vo gạo. Mẹ ngồi xổm, nhúng rá gạo xuống nước, xóc xóc mấy cái, nước đục trắng loang ra. Đàn cá con kéo tới, đớp những hạt cám trôi theo. Mình ngồi bên cạnh, nhìn cá đớp, cười khúc khích.
Rửa rau, rửa bát, giặt khăn, cái gì mẹ cũng ra cầu ao làm. Cầu ao là chỗ mẹ ngồi nhiều nhất trong ngày, sau bếp. Có những chiều mình thấy mẹ ngồi đó lâu hơn cần thiết, mắt nhìn mặt ao, tay không làm gì.
Mình không hỏi mẹ nghĩ gì. Bây giờ mình đoán, có lẽ đó là khoảnh khắc duy nhất trong ngày mẹ được ngồi một mình. Không con cái gọi, không việc gì đòi. Chỉ có mặt ao và bóng mình.
Ngồi thả chân xuống ao
Trưa hè, mình hay ra cầu ao ngồi thả chân xuống nước. Nước ao mát, hơi đục, chân chìm vào thấy nhột nhột vì những con cá nhỏ tới rỉa. Mình ngồi im, để cá rỉa, nhột đến mức phải rụt chân lên, rồi lại thả xuống.
Mẹ dặn không được xuống ao tắm, ao sâu, bùn lún. Mình nghe lời, chỉ dám ngồi thả chân. Mấy đứa trẻ con trong xóm lén xuống ao bắt cá, bị bố mẹ đánh cho một trận. Mình đứng nhìn, vừa thương vừa sợ.
Có những buổi chiều mình mang cần câu tre ra cầu ao câu cá rô. Mồi là con giun đào ở gốc chuối. Mình ngồi cả buổi, mắt dán vào cái phao bằng lông gà. Phao giật một cái, mình giật cần, có khi được con cá rô to bằng hai ngón tay, có khi chỉ được cái lá.
Câu được cá, mình chạy vào khoe mẹ. Mẹ cười, bảo con cá bé thế này thì thả đi cho nó lớn. Mình tiếc, nhưng cũng thả. Đứng trên cầu ao nhìn con cá bơi đi, thấy mình như vừa làm một việc lớn lao.
Ngày tát ao
Mỗi năm, vào khoảng cuối năm, nhà mình tát ao một lần. Đó là ngày vui như hội. Bố và mấy chú trong họ dùng gầu dai, hai người đứng hai bên, đưa gầu múc nước hắt ra mương. Nhịp gầu đều đặn, nước ào ào chảy.
Nước cạn dần, cá bắt đầu lộ ra, quẫy đành đạch trong bùn. Cả nhà xuống ao, mình cũng được xuống, bùn ngập đến đầu gối. Cá rô, cá diếc, cá trê, cá chép, có cả lươn, cả cua. Mình nhặt cá bỏ vào thùng, người lấm bùn từ đầu đến chân.
Mẹ chia cá cho hàng xóm, cho họ hàng, mỗi nhà một ít. Tối ấy nhà nào trong xóm cũng có cá kho, cá rán. Bố bảo tát ao là để cả xóm cùng ăn, không phải để một nhà ăn.
Tát xong, bố vét bùn đắp lên bờ, phơi đáy ao vài ngày cho sạch, rồi mới cho nước vào lại, thả cá giống mới. Một vòng mới bắt đầu. Mình thích cái cảm giác ấy, như mọi thứ được làm lại từ đầu.
Cái ao cạn dần
Bây giờ ao nhà mình không còn. Bố mẹ già, không nuôi cá nữa. Làng có nước máy, không ai rửa rau ở ao. Nhà chú mình xin lấp một nửa ao để xây nhà cho em họ ra ở riêng. Nửa còn lại cạn dần, cỏ mọc um tùm.
Không chỉ nhà mình. Nhiều cái ao trong làng đã bị lấp, thành nhà, thành sân, thành đường. Làng khô hơn, gọn hơn, nhưng cũng nóng hơn. Mùa hè không còn hơi mát từ mặt ao bốc lên. Mùa mưa nước không có chỗ thoát, ngập ngoài đường.
Mình không trách ai. Người ta cần đất ở, cần chỗ cho con cháu. Nhưng mình vẫn tiếc cái ao, tiếc chiếc cầu ao, tiếc bóng mẹ ngồi một mình mỗi chiều. Có những thứ mất đi không ai để ý, đến khi để ý thì đã muộn.
Nếu bạn còn một cái ao ở quê, còn một chiếc cầu ao, có lẽ lần về tới bạn hãy ra ngồi đó một lúc. Thả chân xuống nước, để cá rỉa. Nhìn mặt ao soi bầu trời. Biết đâu bạn sẽ hiểu vì sao mẹ ngồi lâu đến thế.
Câu hỏi thường gặp
Cầu ao là gì?
Cầu ao là chỗ bắc từ bờ ra mặt ao, thường làm bằng ván gỗ, tre hoặc đá, để người ta ngồi rửa rau, vo gạo, giặt giũ. Cầu ao từng rất quen thuộc ở các làng quê đồng bằng Bắc Bộ.
Tát ao là gì và để làm gì?
Tát ao là làm cạn nước ao bằng gầu hoặc máy bơm để bắt cá, vét bùn và làm vệ sinh đáy ao. Sau khi phơi đáy vài ngày, người ta cho nước vào lại và thả cá giống mới.
Gầu dai là gì?
Gầu dai là loại gầu có hai sợi dây hai bên, do hai người đứng hai bờ cùng đưa để múc nước từ chỗ thấp hắt lên chỗ cao. Đây là dụng cụ tát nước quen thuộc của nhà nông xưa.
Vì sao ao làng ngày càng ít?
Nhiều ao bị lấp để làm nhà, làm đường khi dân số tăng và đất ở trở nên quý. Việc có nước máy cũng khiến ao không còn cần thiết cho sinh hoạt như trước.
Trẻ con chơi gần ao cần lưu ý gì?
Ao thường sâu và đáy bùn lún, rất nguy hiểm với trẻ nhỏ. Người lớn cần rào chắn hoặc trông chừng, dạy trẻ không tự xuống ao và cho trẻ học bơi ở nơi an toàn.