Nón lá là vật che mưa che nắng đã gắn bó rất lâu với người Việt, được làm hoàn toàn bằng tay từ lá và khung tre ở nhiều làng nghề. Mỗi vùng có một kiểu nón riêng, như nón quai thao của miền Bắc hay nón bài thơ xứ Huế, loại nón giấu những câu thơ và hình cắt giữa hai lớp lá, phải soi lên nắng mới thấy.
Chào bạn, đây là Kho Sách Nói. Chiếc nón lá quen tới mức ta ít khi để ý tới nó, cho tới khi thấy một người khách nước ngoài cầm nó lên ngắm nghía như một món quà quý. Tập này mình cùng nhìn kỹ lại chiếc nón ấy.
Chiếc nón trong đời sống hằng ngày
Với người nông dân, chiếc nón lá là vật bất ly thân. Nắng thì che đầu, mưa thì che mặt, nghỉ giữa buổi cấy thì lấy ra quạt. Có lúc dùng để múc nước uống ở bờ ruộng, đựng mấy quả ổi hái dọc đường, hay lót ngồi.
Hình dáng chóp nhọn của nón có lý do thực tế: nước mưa chảy nhanh xuống, không đọng lại. Vành rộng che được cả mặt và vai. Nón nhẹ, đội cả ngày không mỏi cổ.
Chiếc nón cũng theo người phụ nữ ra chợ, theo người mẹ đưa con tới trường, theo cô gái trong những buổi hẹn. Có những cử chỉ quen thuộc như nghiêng nón che nắng, hay kéo vành nón xuống che nụ cười e thẹn.
Vì gắn bó như vậy, chiếc nón dần mang thêm ý nghĩa văn hoá, xuất hiện trong ca dao, trong tranh, trong điệu múa. Nhưng trước hết, nó là một vật dụng rất thông minh của người làm ruộng xứ nóng và mưa nhiều.
Làm một chiếc nón cần những gì
Làm nón là nghề thủ công tỉ mỉ. Lá làm nón thường là loại lá họ cọ, mỗi vùng dùng một loại lá tuỳ những gì sẵn có ở địa phương. Lá được phơi, có nơi sấy, rồi làm cho phẳng và mềm trước khi dùng.
Khung nón gồm nhiều vòng nan tre được chuốt tròn đều, từ vòng nhỏ ở chóp tới vòng lớn ở vành, đặt lên một chiếc khuôn hình chóp. Người thợ xếp từng lớp lá lên khung, rồi khâu bằng sợi chỉ hay sợi cước, mũi kim đều tăm tắp.
Một chiếc nón đẹp là khi lá trắng đều, không có vết ố, đường khâu thẳng, chóp nhọn cân, vành tròn. Nhìn qua thì đơn giản, nhưng để làm được đều tay như vậy cần nhiều năm học.
Ở nhiều làng nghề, việc làm nón được truyền từ bà sang mẹ, từ mẹ sang con. Có những người khâu nón cả đời, ngồi bên hiên nhà, tay thoăn thoắt mà vẫn trò chuyện với hàng xóm được.
Nón bài thơ xứ Huế
Trong các loại nón, có lẽ nón bài thơ xứ Huế là loại được nhắc nhiều nhất. Nón mỏng, nhẹ, lá trắng. Điều đặc biệt là giữa hai lớp lá, người thợ kẹp những câu thơ hoặc hình cắt bằng giấy, như cảnh sông núi, cây cầu, con thuyền.
Đội nón bình thường thì không thấy gì. Chỉ khi giơ nón lên soi ngược ánh nắng, những câu thơ, những hình ảnh ấy mới hiện ra mờ mờ trên nền lá. Cái đẹp kín đáo ấy làm nón bài thơ trở thành món quà được nhiều người ưa chuộng.
Nhiều người coi nón bài thơ như một phần hình ảnh của xứ Huế, cùng với dòng sông và tà áo dài. Những câu thơ kẹp trong nón cũng thay đổi theo người làm và người đặt, không có một bộ cố định.
Ở miền Bắc, có loại nón quai thao, vành rộng và phẳng, có dây quai bằng tơ, gắn với hình ảnh những liền chị quan họ. Mỗi kiểu nón kể một chút về vùng đất làm ra nó.
Chiếc nón trong lời ca và điệu múa
Chiếc nón đi vào nhiều điệu múa, nổi tiếng nhất có lẽ là múa nón, khi những cô gái mặc áo dài xoay nón, nghiêng nón, xếp nón thành những hình đẹp mắt trên sân khấu. Điệu múa ấy thường xuất hiện trong các buổi biểu diễn văn nghệ ở nhiều nơi.
Trong tranh vẽ và ảnh chụp về Việt Nam, hình ảnh người phụ nữ đội nón lá trên cánh đồng, trên con đò, bên gánh hàng đã thành quen thuộc. Với nhiều người nước ngoài, chiếc nón là một trong những thứ đầu tiên họ nghĩ tới khi nhắc về Việt Nam.
Chính vì nổi tiếng như vậy, nón lá cũng là món quà lưu niệm phổ biến. Bạn có thể để ý, ở nhiều điểm du lịch, nón được trang trí thêm hoa, vẽ màu, hay in hình để hợp với khách.
Đằng sau hình ảnh đẹp ấy vẫn là những bàn tay làm nón, những người ít khi xuất hiện trong ảnh.
Nón lá hôm nay còn lại gì
Ở thành phố, ít người còn đội nón lá hằng ngày. Mũ bảo hiểm, mũ vải, ô dù đã thay chỗ của nó. Nhưng ở nông thôn, ngoài đồng, ngoài chợ, chiếc nón vẫn là vật dụng quen thuộc của rất nhiều người.
Nghề làm nón ở nhiều làng cũng gặp khó, vì thu nhập không cao và người trẻ ít muốn theo. Có làng tìm cách làm nón phục vụ du lịch, cho khách tới xem và thử khâu nón, để nghề có thêm nguồn sống.
Nếu có dịp mua một chiếc nón, hãy chọn chiếc làm cẩn thận, hỏi người bán xem nón làm ở đâu. Một chiếc nón tốt dùng được lâu, và mỗi lần mua là một lần góp chút sức cho người làm nghề.
Và lần tới thấy một chiếc nón lá, có lẽ bạn sẽ thử giơ nó lên soi nắng. Biết đâu bên trong lại có một câu thơ.
Câu hỏi thường gặp
Nón lá được làm từ gì?
Nón lá thường được làm từ lá thuộc họ cọ đã phơi khô và làm phẳng, xếp trên khung gồm nhiều vòng nan tre, rồi khâu lại bằng chỉ hoặc cước. Loại lá có thể khác nhau tuỳ vùng.
Nón bài thơ xứ Huế khác nón lá thường ở điểm nào?
Nón bài thơ mỏng và nhẹ hơn, giữa hai lớp lá có kẹp những câu thơ hoặc hình cắt bằng giấy, chỉ hiện ra khi soi nón lên ánh sáng.
Nón quai thao là gì?
Nón quai thao là loại nón của miền Bắc, vành rộng và mặt phẳng, có dây quai bằng tơ, thường gắn với hình ảnh các liền chị trong sinh hoạt quan họ.
Vì sao nón lá có hình chóp nhọn?
Hình chóp giúp nước mưa chảy nhanh xuống, không đọng lại, còn vành rộng che được mặt và vai khỏi nắng. Đây là thiết kế rất hợp với khí hậu nắng mưa nhiều.
Làm sao giữ nón lá bền lâu?
Tránh để nón ướt lâu, phơi khô ở chỗ thoáng sau khi đi mưa, treo nón thay vì đè vật nặng lên, và có thể phủ một lớp dầu bóng chống thấm nếu người bán khuyên dùng.